Có người nấu rất khéo mà tô mì vẫn không ngon, chỉ vì ăn không đúng cách.
Mì Quảng không phải húp như tô bún, nó phải được trộn lên trước đã.
Trộn trước khi ăn
Trộn đều từ đáy tô lên. Việc đầu tiên.
Rau nằm dưới nên phải đảo lên. Nếu không thì ăn hết mì mới tới rau.
Trộn cho nước nhưn bám vào sợi. Mục đích chính.
Trộn nhẹ tay. Mạnh quá thì nát sợi và văng ra ngoài.
Trộn bằng đũa, không dùng muỗng. Đũa gọn hơn.
Trộn xong mới nếm. Nếm trước khi trộn thì sai.
Thiếu đậm thì chấm thêm nước tương. Đừng chan.
Thiếu chua thì vắt chanh. Từng chút.
Thiếu cay thì thêm ớt. Cắn trái ớt xanh là đúng kiểu.
Không chan thêm nước vào tô. Làm hỏng cả món.
Ăn ngay sau khi trộn. Để lâu thì sợi trương.
Tô đã trộn không để dành được. Ăn hết trong một lượt.
Trẻ nhỏ thì người lớn trộn giúp. Và bớt ớt.
Việc trộn không phải thói quen tuỳ hứng mà là một bước của món, vì cả cách nấu đã được tính sao cho người ăn phải trộn. Trộn là một bước của món.
Dùng miếng bánh tráng
Bẻ miếng vừa tay. Không bẻ quá nhỏ.
Xúc nhưn bằng bánh tráng. Cách ăn quen thuộc.
Bẻ vụn rắc vào tô cũng được. Tuỳ người.
Bẻ tới đâu ăn tới đó. Bẻ sẵn thì ỉu.
Không nhúng bánh vào nước nhưn rồi để đó. Mềm nhũn.
Ăn xen kẽ miếng giòn với gắp mì. Đổi cảm giác.
Bánh giòn bù cho sợi mềm. Đó là lý do nó có mặt.
Người lớn tuổi thì bẻ nhỏ hơn. Dễ ăn.
Trẻ nhỏ cẩn thận với cạnh bánh. Sắc.
Ai không ăn được mè thì bỏ. Nói rõ.
Nướng thêm nếu ăn hết. Nhanh.
Một tô thường một tới hai miếng là vừa. Nhiều quá thì ngán.
Không có bánh tráng thì vẫn ăn được. Nhưng thiếu một tầng.
Miếng bánh tráng làm nhiệm vụ đối lập với sợi mì, nên nó phải giòn thật và phải được bẻ ngay lúc ăn. Giòn thật và bẻ tại chỗ.
Ăn nóng và ăn nhanh
Mì Quảng ăn nóng mới ngon. Nguội thì sợi trương.
Bưng ra là ăn ngay. Đừng chờ chụp ảnh lâu.
Trụng mì tới đâu dọn tới đó. Không xếp sẵn hàng loạt.
Nhà đông thì chia đợt. Mỗi đợt vài tô.
Người ăn chậm thì xếp tô ít sợi hơn. Ăn hết trước khi nguội.
Nhưn phải nóng già khi chan. Nguội thì tô mì nguội theo.
Tô nên ủ ấm nếu trời lạnh. Tráng nước nóng trước.
Không hâm lại tô đã trộn. Nát và bở.
Thừa sợi thì để riêng. Trộn dầu, dùng bữa sau.
Thừa nhưn thì cất ngăn mát. Hâm lại lần sau.
Không trộn sẵn tô cho người về muộn. Xếp lúc họ về.
Rau và đậu phộng để riêng cho người về muộn. Giữ được tươi và giòn.
Ăn hết trong vòng mười lăm phút. Sau đó là khác hẳn.
Mọi thứ trong tô mì Quảng đều được tính cho lúc vừa bưng ra, nên đây là món không chờ được ai. Món không chờ ai.
Ăn bữa nào
Người Quảng ăn mì Quảng bữa sáng. Rất phổ biến.
Cũng ăn bữa trưa. Bình thường.
Ăn tối thì hơi nặng với một số người. Tuỳ bụng.
Là món chính chứ không phải món phụ. No được cả buổi.
Một tô là đủ cho người lớn. Không cần thêm cơm.
Người làm đồng thì ăn tô lớn hơn. Thêm sợi.
Người lớn tuổi ăn tô nhỏ. Chia hai lần cũng được.
Trẻ nhỏ thì cắt ngắn sợi. Dễ ăn hơn.
Ngày rằm và mùng một thì nhà nào cũng có thể nấu. Bản chay rất dễ làm.
Đãi khách cũng hợp. Món có mặt mũi.
Giỗ chạp thì nấu nồi lớn. Ai tới cũng có tô.
Không hợp làm món mang đi xa. Phải ăn tại chỗ.
Người có bệnh dạ dày thì bớt ớt. Hỏi bác sĩ nếu hay đau.
Mì Quảng hợp bữa sáng và bữa trưa hơn bữa tối, và nó là món chính chứ không phải món ăn chơi. Món chính, ăn sớm trong ngày.
Dọn cho khách
Hỏi trước khách có ăn được cay không. Để ớt riêng cho chắc.
Hỏi khách có dị ứng gì không. Đậu phộng và mè là hai thứ hay gặp.
Nói rõ tô có gì. Nhất là khách lần đầu ăn.
Chỉ cho khách cách trộn. Đừng để họ húp như tô bún.
Bày rau và đồ ăn kèm ra đĩa chung. Ai thích gì tự thêm.
Để chanh và ớt ở giữa bàn. Dễ với tay.
Xếp tô vừa phải. Thiếu thì thêm.
Hỏi khách có muốn thêm sợi không. Trước khi trụng mẻ mới.
Dọn tô lớn cho người lớn, tô nhỏ cho trẻ. Đừng để trẻ ngại vì ăn không hết.
Khách ăn chay trường thì hỏi có kiêng ngũ vị tân không. Hành, hẹ, tỏi, kiệu và hưng cừ.
Làm phần riêng cho người kiêng. Đánh dấu rõ.
Không ép khách ăn thêm. Mời một lần là đủ.
Cảm ơn khách đã tới. Hơn là nhắc mình nấu cực.
Dọn mì Quảng cho khách lần đầu thì việc nên làm nhất là chỉ họ trộn lên, vì đó là khác biệt giữa ăn ngon và ăn tạm. Chỉ khách cách trộn.
Lỗi hay gặp
Húp như tô bún. Lỗi của người chưa quen.
Không trộn trước khi ăn. Rau nằm nguyên dưới đáy.
Trộn mạnh tay. Nát sợi, văng ra ngoài.
Chan thêm nước vào tô. Hỏng cả món.
Chan thêm nước tương. Mặn gắt, nên chấm.
Để tô nguội rồi mới ăn. Sợi trương.
Xếp sẵn hàng loạt tô rồi chờ. Nguội hết.
Hâm lại tô đã trộn. Nát và bở.
Bẻ sẵn bánh tráng từ sớm. Ỉu.
Nhúng bánh tráng vào nhưn rồi để đó. Mềm nhũn.
Cho sẵn ớt vào tô. Trẻ nhỏ không ăn được.
Không hỏi khách chuyện dị ứng. Rủi ro.
Không chỉ khách cách ăn. Họ ăn tạm rồi nghĩ món chỉ có vậy.
Một tô mì Quảng nấu khéo mà ăn sai cách thì vẫn dở, nên trong nhà nên có người biết chỉ lại cho khách và cho trẻ. Biết ăn cũng là một nửa.